GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG TIỂU HỌC BÌNH MỸ

      I. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT

       1. Lịch sử hình thành.

Trường tiểu học Bình Mỹ được thành lập theo quyết định số 230/QĐ-UB ngày 28/3/1997 của Ủy Ban nhân dân huyện Tân uyên (nay là huyện Bắc Tân Uyên). Trường có 2 điểm trường: Một điểm chính ở ấp 1 xã Bình Mỹ, nay là ấp đồng sặc, một điểm lẻ ở ấp Bình Cơ. Qua quá trình sử dụng cơ sở vật chất xuống cấp không đáp ứng cho nhu cầu dạy và học và không thể nào đặt ra vấn đề trường chuẩn được.

Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên, Phòng Giáo dục và Đào tạo đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. Trường được thi công từ ngày 14/7/2006 địa điểm tại ấp Mỹ Đức thuộc xã Bình Mỹ trên diện tích đất thanh lý cao su được công ty cổ phần cao su Phước hòa để lại. Đến ngày 14/01/2008 trường được đưa vào sử dụng và có cơ sở khang trang như ngày hôm nay.

Quy mô trường gồm có 1 trệt, 2 lầu, gồm 28 phòng học, 4 phòng chức năng và khu làm việc hành chánh của nhà trường gồm có các phòng như phòng y tế, phòng hiệu trưởng, phòng phó hiệu trưởng, phòng họp Hội đồng sư phạm, văn phòng trường, phòng truyền thống, phòng Công đoàn, phòng Đoàn – Đội, Thư viện, kho thiết bị, phòng đọc sách giáo viên và học sinh, 2 kho lưu trữ hồ sơ và tài sản, 3 phòng nghỉ của giáo viên tại trường, phòng thường trực của bảo vệ, trường có 8 khu vệ sinh của học sinh và giáo viên riêng biệt.

Qua quá trình phấn đấu Trường Tiểu học Bình Mỹ đã danh dự được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I 2008 – 2009 (giai đoạn 2006 – 2010) theo quyết định số Quyết định số 3836/QĐ-UBND ngày 04/12/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

Năm học 2010-2011 trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3 theo quyết định số 130/QĐ-UBND, ngày 12/01/2011 của Ủy ban nhân tỉnh Bình Dương.

Trên cơ sở những thành tích đạt được, trường tiếp tục phấn đấu đến năm học 2014-2015 Trường Tiểu học Bình Mỹ vinh dự được UBND tỉnh Bình Dương công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II theo Quyết định số 1002/QĐ-UBND ngày 22/4/2015.

     2. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường:

Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường hiện có: 59 (số liệu tính đến ngày 16/3/2017)  trong đó:

– Ban giám hiệu: 3

– Tổng phụ trách Đội: 1

– Thư viện – Thiết bị: 2

– Chuyên trách Phổ cập: 1

– Kế toán- Văn thư: 2

– Y tế- Thủ quỹ: 1

– Thông tin dữ liệu: 1

– Bảo vệ: 3.

– Phục vụ: 2

– Giáo viên chủ nhiệm lớp: 32

– Giáo viên Bộ môn: 10, trong đó:

+ Giáo viên Thể dục: 3

+ Giáo viên Anh Văn: 3

+ Giáo viên Âm Nhạc: 1

+ Giáo viên Mỹ thuật: 2

+ Giáo viên Tin học: 1

– Giáo viên phụ trách phòng Nghe nhìn: 1

       3. Số lượng học sinh, lớp:

Toàn trường có 923 học sinh, nữ : 412 trong đó:

Khối 1: 155, nữ:63

Khối 2: 217, nữ: 96

Khối 3: 213, nữ: 103

Khối 4: 194, nữ: 90

Khối 5: 144, nữ: 60

Các trang thiết bị dạy học được ngành trang bị đầy đủ phục vụ tốt cho nhu cầu dạy học.

Tập thể giáo viên đa số trẻ nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm giảng dạy, tích cực tham gia phong trào. Học sinh ham thích tham gia hoạt động học tập và tham gia phong trào cấp trường và cấp huyện.

Công tác xã hội hóa luôn được chú ý đẩy mạnh đã hỗ trợ nguồn kinh phí đáng kể cho nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động dạy học và phong trào trong nhà trường đạt kết quả tốt.

Hạn chế:

Còn một vài giáo viên chưa tích cực tham gia phong trào, một số giáo viên lớn tuổi chưa tích cực học tập Tin học nên việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy còn hạn chế.

Chất lượng học tập của học sinh còn khoảng cách chênh lệch. Học sinh giỏi cấp tỉnh còn rất ít.

Phần đông cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình còn giao khoán hết việc học cho giáo viên, cho nhà trường.

      II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NĂM HỌC 2015-2016:

    1. Triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo nhiệm vụ giáo dục tiểu học và kế hoạch thời gian năm học.

Vào đầu năm học, nhà trường đã tổ chức triển khai đến giáo viên về chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về nhiệm vụ năm học 2015-2016. Triển khai qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ – BGD&ĐT ngày 30/9/2005 của Bộ giáo dục, và thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành qui định về đánh giá  học sinh tiểu học.

Thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học:

Thực hiện dạy 2 buổi/ngày từ khối 1-5. Buổi thứ nhất dạy theo chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ giáo dục và Đào tạo. Giáo viên soạn giảng theo phân phối chương trình, đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng. Buổi thứ hai dạy thời khoá biểu linh hoạt theo đối tượng học sinh từ tuần 6 đối với khối 2-5. Lớp năng khiếu Âm nhạc thực hiện từ tuần 6 (14 học sinh khối 4), lớp năng khiếu thể dục từ tuần 6 (15 học sinh khối 3).

Trường có 14 học sinh dân tộc (nữ: 5) , 01 học sinh khuyết tật chân (nữ: 1); 01 học sinh khiếm thính đều học hòa nhập.

Thực hiện Đề án: “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” nhà trường dạy Anh văn đại trà và Anh văn tăng cường từ khối lớp 1 đến lớp 5.

Tổ chức các kỳ thi:

– Thực hiện tổ chức kiểm tra cuối năm học theo kế hoạch chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo. Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng ra đề, sao in đề kiểm tra, phân công coi, chấm bài kiểm tra học sinh nghiêm túc theo qui chế. Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, văn phòng phẩm, để phục vụ tốt cho việc kiểm tra cuối năm học được chu đáo và an toàn.

Kết quả: việc tổ chức kiểm tra cuối năm học diễn ra nghiêm túc theo đúng kế hoạch.

    2. Chỉ đạo hoạt động dạy học

    2.1 Chỉ đạo dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình.

Ngay đầu năm học nhà trường tích cực chỉ đạo giáo viên soạn giảng lồng ghép tích hợp GDMT và GDKNS GDSDNLTK&HQ … vào các môn học. Riêng TH GDKNS lồng ghép vào tiết dạy sinh hoạt lớp. Kết quả là HS hiểu và biết bảo vệ môi trường, có kĩ năng sống tốt và biết tiết kiệm sử dụng năng lượng hiệu quả trong cuộc sống.

Giáo viên thực hiện nghiêm chỉnh việc đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng và đánh giá học sinh theo và thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành qui định về đánh giá  học sinh tiểu học.

Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra việc soạn giảng của giáo viên để kịp thời góp ý chấn chỉnh rút kinh nghiệm giúp cho việc giảng dạy được tốt hơn.

    2.2  Đổi mới phương pháp dạy học:

Giáo viên đầu tư việc soạn giảng, chú ý đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện các phương pháp tích cực như : PP làm việc theo nhóm, trò chơi thi đua,  hỏi đáp trong giờ học, ghi ý kiến lên bảng, phỏng vấn nhanh, nêu và giải quyết vấn đề, trực quan, đóng vai,… giúp cho tiết học sinh động, học sinh tiếp thu bài tốt. Khi lên lớp giáo viên khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả. Đồ dùng đã có, đồ dùng tự làm, ngoài ra giáo viên còn khai thác và sử dụng thêm một số đồ dùng dễ kiếm ở địa phương như: mẫu vật, tranh ảnh, cây, hoa quả,… đễ gây hứng thú học tập cho học sinh, tạo điều kiện cho giờ học nhẹ nhàng, thoải mái.

Giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để gây hứng thú trong học tập của học sinh, như sử dụng chương trình trình diễn (powerpoint) và máy chiếu (projector) trong tiết dạy  để nâng cao chất lượng dạy và học.

Tiếp tục thực hiện “phương pháp bàn tay nặn bột” từ khối 1-5.

– Gây hứng thú học tập cho HS;

– HS tự tìm hiểu, bộc lộ quan điểm ban đầu tự đặt câu hỏi và đề xuất phương án thí nghiệm, HS thực hành thí nghiệm nên nắm vững kiến thức.

– Giúp HS biết cách lý luận và phát triển năng lực. khăn:

-HS quá đông nên sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột không thuận lợi;

– GV mất nhiều thời gian để tìm tài liệu, các đối tác ở địa phương không có, muốn hỏi các nhà khoa học về vấn đề liên quan thì rất khó.

– GV phải có kiến thức khoa học vững vàng và có khả năng ứng phó linh hoạt với mọi tình huống (điều này không phải GV nào cũng có được);

– Đối với HS phải có vốn kiến thức thực tế phong phú, phải chủ động học tập, năng động và sáng tạo;

– Sử dụng PP bàn tay nặn bột thì đòi hỏi rất nhiều năng lực ở GV và trình độ của HS phải đạt ở mức khá, giỏi trở lên.

– Trang bị đầy đủ, dụng cụ thí nghiệm;

– Chỉ dạy PP này ở HS khá , giỏi.

    2.3 Các biện pháp để đảm bảo chất lượng giáo dục, không để xảy ra việc học sinh không đạt chuẩn lên lớp, giảm số học sinh lưu ban, bỏ học..

Nhà trường chỉ đạo thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày theo thời khoá biểu linh hoạt toàn trường từ khối 1-5, buổi chiều dạy theo nhóm đối tượng học sinh, ôn tập, phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi, học các môn năng khiếu, môn tự chọn. Tăng thời gian phụ đạo học sinh yếu vào tiết thứ 5 buổi sáng từ thứ hai đến thứ sáu.

Tổ chức ra đề, coi, chấm bài kiểm tra định kỳ theo một quy trình chặt chẽ, phát huy được tính trung thực, không chạy theo thành tích, đánh giá đúng thực chất việc dạy và học, điều chỉnh phương pháp dạy học kịp thời, quan tâm học sinh yếu, học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Giáo viên tạo mọi điều kiện để giúp học sinh hoàn thành bài tập và thuộc bài tại lớp; chấm bài và chữa bài cho học sinh mỗi ngày; thực hiện kiểm tra đánh giá học sinh đúng theo chuẩn kiến thức kỹ năng và đúng theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Nâng cao tiết sinh hoạt lớp, động viên khuyến khích, tuyên dương học sinh hằng ngày. Chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh yếu để giúp đỡ. Xây dựng đôi bạn học tập giúp nhau cùng tiến bộ.

Ban giám hiệu tăng cường thăm lớp dự giờ. Giáo viên chủ nhiệm thực hiện cam kết chất lượng giáo dục và thực hiện bàn giao học sinh lớp dưới lên lớp trên.

Đẩy mạnh công tác xã hội hóa hỗ trợ học bổng cho học sinh nghèo.

Chất lượng giáo dục: Do áp dụng thời khóa biểu linh hoạt, buổi chiều dạy theo đối tượng học sinh nên chất lượng giáo dục cuối năm có tiến bộ so với giữa kỳ I, tỷ lệ học sinh  yếu giảm so với giữa kỳ I. Tiến bộ rõ nét nhất là khối 3 và khối 4 chất lượng học sinh giỏi được tăng dần, còn tỷ lệ học sinh yếu thì  được giảm dần đến cuối năm., cụ thể như sau:

Kết quả giáo dục:

Học tập: Các môn học Hoàn thành đạt từ 91,0 % trở lên.

Năng lực; phẩm chất  Đạt 922/922 tỷ lệ 100%

Học sinh lên lớp thẳng từ lớp 1-5: 881/922= 95,6%

Học sinh lớp 5 hoàn thành CTTH: 147/147 tỷ lệ 100%

    2.4 Thực hiện bàn giao chất lượng học tập của học sinh lớp dưới lên lớp trên.

Cuối năm học 2014 – 2015 cho đến nay nhà trường đã tổ chức cho giáo viên lập biên bản cam kết, bàn giao chất lượng học sinh lớp dưới lên lớp trên từ lớp 1 đến lớp 4 vào đầu tháng 8/2015 qua sổ bàn giao;

Trong học kỳ I nhà trường đã tổ chức Hội thảo tìm biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh môn Toán, Tiếng Việt lớp 5 và chỉ đạo cho Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 thực hiện cam kết chất lượng với Hiệu trưởng nhà trường về chất lượng đầu vào lớp 6 năm học sau. Qua kết quả khảo sát học sinh lớp 5 Ban giám hiệu đã chỉ đạo các lớp tăng cường công tác phụ đạo và bồi dưỡng học sinh vào buổi chiều và phụ đạo thêm tiết thứ 5 vào mỗi buổi sáng trong tuần để nâng cao chất lượng giáo dục cuối năm.

    2.5 Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục

*  Hoạt động giáo dục vệ sinh răng miệng:

Nhà trường tổ chức cho học sinh toàn trường chải răng, và ngậm thuốc Fluor vào chiều thứ tư hằng tuần sau giờ ra chơi.

Phụ trách là giáo viên dạy Thể dục kiêm nhiệm tổ giáo dục sức khoẻ phối hợp với bộ phận y tế, giáo viên chủ nhiệm cùng thực hiện.

Trong chương trình các tiết ngoài giờ lên lớp còn đưa vào giảng dạy 4 bài vệ sinh răng miệng cho học sinh từ khối 1-5 có 2 bài, dạy ở tuần 5 và tuần 17.

Việc thực hiện chuyên đề vệ sinh răng miệng được trạm y tế xã thường xuyên kiểm tra, giám sát.

* An toàn vệ sinh thực phẩm

Nhà trường tích cực tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành các qui định về đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong học sinh, cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường.

Hình thức: Phối hợp cùng  trạm y tế địa phương đến để tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt dưới cờ. Nhà trường thành lập tổ kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong căn tin và có biện pháp chấn chỉnh ngay những sai phạm. Ngoài ra hàng tháng trạm y tế địa phương cũng đến trường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm căn tin trường.

* Hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Nhà trường xây dựng chương trình các tiết ngoài giờ lên lớp. Mỗi tháng đều có chủ điểm sinh hoạt phù hợp với sự kiện lịch sử đất nước và có nội dung hoạt động cụ thể. Mỗi tháng có 4 tiết và trung bình mỗi tuần 1 tiết dạy theo thời khoá biểu qui định.

Chủ điểm từng tháng thống nhất từ khối 1-5: tháng 8+9: Vui Hội khai trường; tháng 10: Làm theo lời Bác, chăm học chăm làm; tháng 11: Biết ơn thầy cô giáo; tháng 12: Em yêu chú Bộ đội; tháng 1+2: Em là mầm non của Đảng; tháng 3: Mừng sinh nhật đoàn; tháng 4: Mừng đất nước nở hoa chiến thắng; tháng 5: Theo gương Bác Hồ kính yêu.

Nội dung sinh hoạt hằng tuần là về nội qui và nhiệm vụ năm học mới; lễ khai giảng; tìm hiểu truyền thống nhà trường, đội ngũ thầy cô giáo trong nhà trường; tìm hiểu truyền thống HS giỏi, VSCĐ của nhà trường; xây dựng đôi bạn học tốt; xây dựng phương pháp, ý thức học tập đúng đắn; thi đua học tốt/lễ giao ước chăm ngoan học giỏi giữa các tổ; hoạt động văn hóa văn nghệ (nhớ ơn các thầy cô giáo); làm thiệp/ báo tường mừng ngày Tết nhà giáo; GD quyền và bổn phận trẻ em; tìm hiểu những người con anh hùng của quê hương địa phương (xã Bình Mỹ), tìm hiểu truyền thống văn hóa quê hương (ngày Tết cổ truyền, các trò chơi dân gian)/ trình bày kết quả sưu tầm về ca dao, tục ngữ và nét đẹp truyền thóng quê hương; kế hoạch phấn đấu trong HKII; nghe nói chuyện về truyền thống lịch sử địa phương; tìm hiểu về thời niên thiếu của Bác Hồ; chúng em kể chuyện Bác Hồ; GDMT gồm các hoạt động làm sạch đẹp trường lớp, GDSDNLTK&HQ; các trò chơi dân gian thay đổi theo đặc điểm tâm sinh lý học sinh ở từng khối lớp; vệ sinh răng miệng, an toàn giao thông.

* Phòng chống tai nạn thương tích:

Thực hiện quyết định số 4458/QĐ-BGDĐT ngày 22/8/2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong trường học, nhà trường thành lập Ban chỉ đạo công tác y tế trường học, tuyên truyền trong học sinh và cha mẹ học sinh, cải tạo môi trường học tập và sinh hoạt vui chơi, học tập an toàn. Huy động các thành viên trong và ngoài nhà trường tham gia phát hiện và báo cáo kịp thời các nguy cơ gây tai nạn. Phòng y tế xây dựng tủ thuốc và trang bị đầy đủ các dụng cụ sơ cấp cứu theo qui định. Phòng y tế trực thường xuyên để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học sinh. Mỗi năm học đều tổ chức tiêm sởi mũi 2 cho học sinh khối 1 và tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh toàn trường. Lập sổ sách theo dõi, ghi chép đầy đủ.

* Vệ sinh môi trường

Nhà trường thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, xây dựng kế hoạch hoạt động. Giáo viên thực hiện chương trình giảng dạy có lồng ghép GDBVMT vào các môn học, giáo dục ngoài giờ lên lớp nội dung: giáo dục học sinh ý thức BVMT trong các tiết SH Đội, SHDC, tổ chức cho học sinh lao động định kỳ: vệ sinh lớp học, chăm sóc hoa kiểng, vườn cây thuốc nam. Ngoài ra còn thực hiện các hoạt động chủ đề như: “Ngày hội vệ sinh trường học”, tổ chức thi vẽ tranh “vì môi trường thân thiện”, phong trào kế hoạch nhỏ, tổ chức làm sạch cổng trường em

* Giáo dục An toàn giao thông:

Nhà trường đưa ATGT vào TKB tiết ngoài giờ lên lớp hằng tuần giảng dạy từ tuần 22 từ khối 1 đến khối 5; tuần 23: bài 1; tuần 26, 27, 28 bài 2, 3, 4; tuần 31 bài 5; tuần 33 bài 6. Riêng khối 5 tuần 33 tìm hiểu về thời niên thiếu của Bác Hồ.

Tuyên truyền giáo dục học sinh có ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ thông qua sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội. Treo băng ron tuyền truyền trước cổng trường: “Học sinh đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông”.

* Công tác Đoàn, Đội:

Chủ đề, công trình măng non năm học: “Thiếu nhi Bắc Tân Uyên; phát huy truyền thống; hiếu học chăm ngoan; tiến bước lên đoàn”

Hoạt động: tổ chức cho học sinh khối 4,5 làm báo tường chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, khối 1,2,3 sáng tác thiệp chúc mừng thầy cô nhân ngày NGVN 20/11.Triển khai chương trình rèn luyện đội viên cho học sinh toàn trường. Phối hợp với công an xã Bình Mỹ tổ chức cho học sinh khối 4,5 đăng ký em là chiến sĩ an ninh nhỏ tổng cộng là 294 đội viên tham gia đạt 100%.

Ngoài ra còn tham gia các phong trào cấp huyện như:

-Thi vẽ tranh “Thiếu nhi Việt Nam với ATGT” nộp về Hội đồng đội huyện được 9 bức.

-Thi sáng tạo trẻ lần thứ XII. Kết quả thu được 3 sản phẩm.

-Viết thư UPU lần thứ 45, kết quả được 30 bài.

-Chương trình liên hoan : “Thanh thiếu nhi vượt khó học tốt” đạt 2 giải khuyến khích phần thi vẽ tranh và phần thi phút truyền thống những anh hùng trẻ tuổi.

-Câu lạc bộ, đội, nhóm ngày hội “ Thiếu nhi khỏe- Tiến bước lên đoàn” đạt giải khuyến khích phần múa dân vũ.

-Hành trình “Tìm địa chỉ đỏ” 2 học sinh đạt chuyên hiệu an toàn giao thông và chuyên hiệu kỹ năng đội viên.

-Hội thi “Nghi thức đội, phụ trách sao giỏi, chúng em kể chuyện Bác Hồ” đạt 2 giải ba phụ trách sao giỏi và chúng em kể chuyện Bác Hồ.

Phát động phong trào nuôi heo đất giúp bạn vượt khó, kết quả đạt 5.940.000 đồng và phong trào kế hoạch nhỏ được 4.725.000 đồng nộp về huyện 3.414.000 đồng, còn lại 1.311.000 đồng; thực hiện phong trào “Nghìn việc tốt” các em  nhặt được của rơi trả lại người bị mất được 379.000 đồng. Phát động phong trào ủng hộ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, kết quả: 269 quyển tập trắng và 39 quyển sách.

Ngoài ra, hoạt động Đội còn hỗ trợ các phong trào trong nhà trường, hỗ trợ xây dựng các nề nếp như thể dục giữa giờ, vệ sinh sân trường lớp học, chăm sóc vườn cây thuốc nam.

    2.6 Triển khai có hiệu quả đề án dạy học ngoại ngữ ở Tiểu học.

Thực hiện chỉ đạo của ngành trực tiếp là phòng giáo dục và Đào tạo huyện Bắc Tân Uyên, nhà trường đã tổ chức dạy tiếng Anh tăng cường và tiếng Anh đại trà từ lớp 1-5

    3. Biện pháp để củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ và thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

-Thực hiện phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình với các ban ngành đoàn thể nhất là Ban điều hành các ấp để tuyên truyền vận động HS ra lớp, giúp đỡ gia đình khó khăn tạo điều kiện cho các em đến trường bằng hình thức cấp học bổng.

-Tạo môi trường vui chơi học tập, giáo viên quan tâm giúp đỡ  học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng giảng dạy. Liên hệ gia đình khi các em nghỉ bỏ học để duy trì sĩ số.

-Thực hiện CTXHHGD:

CMHS hỗ trợ các hoạt động dạy học (Tính đến 30/11/2015): 101.269.850 đồng

Học kỳ II tính đến 15/5/2016 là 119 274 000 đồng.

Tổng cộng cả năm học: 220 543 850 đồng.

Học bổng cho học sinh nghèo: vận động  được 14.248.000 đồng đã xét cấp học bổng cho 12 học sinh nghèo mỗi suất 01 triệu đồng. Quỹ tồn năm học 2015-2016 là 2.248.000 đồng

* Kết quả ngày 20/5/2016 (cuối năm học 2015-2016)

Để đảm bảo việc duy trì sĩ số và giữ vững tỷ lệ đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi tính đến thời điểm 31/12/2015. Nhà trường đã tích cực làm tốt cuộc vận động Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường và huy động học sinh nghỉ bỏ học ra lớp trở lại. Kiểm tra dự giờ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Kết hợp gia đình đối với những em có hoàn cảnh khó khăn và trao học bổng để tạo điều kiện cho các em tiếp tục học tốt, nâng dần tỷ lệ hoàn thành chương trình tiểu học.

Kết quả:

-Huy động 100% học sinh trong độ tuổi PCGDTH đến trường.

-Chỉ tiêu phổ cập giáo dục-CMC-PCGD Tiểu học đúng độ tuổi đạt mức độ 2, chưa có học sinh nghỉ bỏ học.

+Trẻ 6 tuổi theo danh sách điều tra: 191/95 nữ, trong đó: thường trú: 184/ 92 nữ, tạm trú: 7/3 nữ.

+Số trẻ 6 tuổi huy động ra lớp tại địa phương: 195/99 nữ, phân tích:

*Thường trú: 182/90 nữ ( còn 2/2 nữ ra lớp tại địa phương khác)

*Tạm trú: 13/9

Tóm lại: Số trẻ ra lớp tại địa phương so với điều tra: đạt 100%

    4. Kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia, gắn việc xây dựng trường chuẩn quốc gia với xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

Hiện trường tiểu học Bình Mỹ đã được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II. Với những kết quả đạt được trong hoạt động dạy học còn quá khiêm tốn, trong thời gian tới nhà trường vẫn luôn phải phấn đấu nhiều hơn nữa để nâng cao chất lượng dạy và học, phong trào GVG, HSG các cấp, phong trào viết và áp dụng SKKN trong giáo viên và không để bất cứ hiện tượng tiêu cực và bệnh thành tích xảy ra trong đơn vị.

Để phấn đấu hoàn thiện vững chắc 5 tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ II nhà trường gắn việc xây dựng trường chuẩn quốc gia với xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, để góp phần làm cho nhà trường ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức lẫn chất lượng bên trong. Hay nói cách khác là xây dựng một môi trường sư phạm thật sự lành mạnh. Đây cũng chính là ước mơ và là mong muốn của những người làm công tác quản lý giáo dục hiện nay. Đó là thực hiện 5 nội dung: xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn. Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với lứa tuổi học sinh. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Tổ chức các hoạt động tập thể vui chơi lành mạnh trong nhà trường. Tổ chức cho các em tham quan giải trí. Thông qua các tiết sinh hoạt ngoại khoá, học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạnh ở địa phương.

    5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và trong dạy học.

Tích cực tham mưu với lãnh đạo ngành về kinh phí để mua sắm trang bị máy móc, thiết bị như: máy chiếu, laptop, máy vi tính phòng Tin học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy, học tập và làm việc có hiệu quả hơn.

Trang bị hệ thống mạng nội bộ vừa bằng Wireless vừa bằng cáp mạng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên dễ dàng truy cập mạng để tìm kiếm thông tin phục vụ cho giảng dạy.

Động viên giáo viên, nhân viên tự bồi dưỡng nâng cao trình độ Tin học để ứng dụng Tin học vào trong công tác và giảng dạy

    6. Biện pháp tích cực nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn và học sinh khuyết tật.

Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhà trường đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đã tích cực tham mưu với Ban đại diện cha mẹ học sinh và Hội đồng giáo dục để hỗ trợ kinh phí hoạt động dạy học với số tiền (tính đến ngày 31/7/2016): 194.664.100 đồng.

Đồng thời chi hội khuyến học trường đã mở sổ vàng vận động được 14.248.000 đồng, đã xét cấp học bổng cho 12 học sinh nghèo mỗi suất 01 triệu đồng. Quỹ tồn năm học 2015-2016 là 2.248.000 đồng.

    7. Chú trọng bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên.

Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý giáo dục và lý luận chính trị theo qui định của các cấp ủy đảng.

Ban giám hiệu đủ về số lượng, trong đó 3/3 đều đạt trình độ đại học và đều kinh qua lớp cán bộ quản lý và có nhiều năm làm công tác quản lý.

100% giáo viên thực hiện đúng quy chế chuyên môn, tay nghề vững, nhiệt tình với công tác giáo dục, mỗi tháng họp tổ chuyên môn 2 lần/tháng. Tổ chức thao giảng xoay vòng để học tập kinh nghiệm trong tổ khối

    8. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại trường tiểu học; đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp.

Để góp phần thúc đẩy và nâng cao chất lượng quản lý giáo dục, vào đầu năm học nhà trường xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ, ra quyết định thành lập tổ kiểm tra do Hiệu trưởng làm tổ trưởng. Đối tượng kiểm tra là giáo viên dạy lớp; các bộ phận văn phòng. Nội dung kiểm tra: kiểm tra toàn diện hoạt động tổ chuyên môn; kết hợp thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo; kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ giáo viên theo Quyết định 14/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/9/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kiểm tra hồ sơ sổ sách và hoạt động của các bộ phận văn phòng như Thư viện, thiết bị, phổ cập, quản lý công tác chuyên môn, công tác văn thư, y tế, kế toán, hoạt động Đội – chữ thập đỏ, kiểm tra dự giờ thăm lớp đột xuất.

    9. Hoạt động phong trào:

Nhà trường đã chủ động triển khai, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ công tác Đội với công tác giáo dục trong nhà trường. Tổ chức tốt các hoạt động thi giáo viên dạy giỏi,  giao lưu học sinh giỏi, giao lưu tiếng hát dân ca, giao lưu tìm hiểu An toàn giao thông, Olympic cho học sinh. Cụ thể:

– Phong trào:

– Đối với giáo viên:

1/-GVG trường: 24/29, GVG huyện; 4 GVG huyện, 01 GV thi cấp tỉnh, kết quả: không đạt.

2/-Hội giao lưu “ Văn hay chữ tốt, kể chuyện” cấp Tiểu học năm học 2015-2016: đạt 11/11 giáo viên tham gia, trong đó: giải nhất: khối 3 và khối 4; giải nhì: khối 1, khối 5, bộ môn; giải ba: khối 3, khối 5; giải khuyến khích: khối 1, khối 3, khối 4; công nhận: khối 2.

3/-Thi Viên chức quản lý thư viện giỏi cấp huyện đạt giải nhất, thi cấp tỉnh đạt giải khuyến khích.

4/-Thi tuyên truyền giới thiệu sách đạt giải nhất cấp huyện và đạt giải khuyến khích cấp tỉnh.

5/-Thi CBQL giỏi cấp huyện đạt 2/2 dự thi trong đó 01 giải nhất và 01 công nhận.

-Đối với học sinh:

1/-Hội giao lưu Trò chơi dân gian – hát dân ca cấp huyện: đạt giải nhì môn Vòng xoay đoàn kết; giải ba  Ngậm muỗng chuyền banh và 02 giải khuyến khích Thổi bóng nước và Thảm bay trên không; Hát dân ca: đạt giải nhất, giải KK Đồng dao.

2/-Hội giao lưu “ Văn hay chữ tốt, kể chuyện” cấp Tiểu học vòng huyện, đạt 8/10 học sinh dự thi, trong đó: giải nhất: khối 1; giải nhì: khối 2, khối 4, khối 5; giải ba: khối 1; công nhận: khối 2, khối 4, khối 5. Tiếp tục dự thi cấp tỉnh.

3/-Hội giao lưu Olympic Toán -Giải thưởng Lương Thế Vinh cấp Tiểu học vòng huyện: đạt 01 giải ba và 02 học sinh được công nhận.

4/- Olympic Tiếng Anh qua mạng internet (IOE):

+Công nhận cấp trường: 16 HS (khối  3: 8, khối 4: 5, khối 5: 3).

+Đạt cấp huyện: 03 học sinh lớp 5 và được tham gia thi cấp Quốc gia.

5/-Giải Toán bằng Tiếng Anh qua mạng Internet.

+Công nhận cấp trường: 09 học sinh lớp 4.

+Đạt cấp huyện: 05 học sinh lớp 4 và được tham gia thi cấp Quốc gia chưa có kết quả.

6/-Giải Toán bằng Tiếng Việt qua mạng Internet:

+Công nhận cấp trường 89 HS (khối 1: 25, khối 2: 23, khối 3: 21, khối 4: 17, khối 5: 3).

+Đạt cấp huyện: 24 học sinh (khối 1: 6, khối 2: 3, khối 3: 11, khối 4: 1, khối 5: 3) và có 03 HS lớp 5 tham gia thi cấp Quốc gia.

7/-Phong trào HKPĐ cấp huyện: tham gia cấp huyện môn bóng đá mini và cờ vua.

    10. Thực hiện báo cáo định kì đúng thời gian, đúng qui định.

Nhà trường đã thực hiện nghiêm túc việc lưu trữ đầy đủ các loại công văn đến của các cấp: Đảng, chính quyền, đoàn thể, công tác chuyên môn. Thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc chuyển và nhận công văn đến qua hộp thư điện tử, vì vừa tiết kiệm thời gian, nhanh chóng và đỡ mất công sức.

Thực hiện nghiêm túc các chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất về các hoạt động giáo dục với các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

 III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐƯỢC RÚT RA QUA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC:

1. Cần phải xây dựng nền nếp, kỷ cương trong nhà trường, đặt biệt là xây dựng tốt nền nếp dạy học nêu cao tinh thần phê và tự phê trong đội ngũ giáo viên để kịp thời uốn nắn phương pháp giảng dạy, thực hiện chương trình, giáo dục học sinh để thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục.

2. Thực hiện tốt qui chế dân chủ trong trường học, công khai hóa trong moi hoạt động để mọi người thông suốt, tâm lý thoải mái tạo sự đoàn kết nội bộ nhất trí phấn đấu vì mục tiêu chung.

3. Thực hiện tốt công tác tham mưu, công tác xã hội hóa giáo dục, để tranh thủ sự quan tâm của địa phương và các lực lượng xã hội

4. Phải nắm được chủ trương của ngành, nhà nước, Đảng để có kế hoạch phát triển lâu dài, xác định được mục tiêu và chương trình hoạt động cụ thể cho từng năm học.

5. Tăng cường công tác thanh kiểm tra, chú ý thường xuyên công tác bồi dưỡng đội ngũ. Đây là một trong những cơ sở phát huy vai trò năng lực của đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy.

6. Quan tâm cải tiến công tác quản lí, lề lối làm việc, hoạt động chuyên môn để tạo cơ sở cho nhà trường tổ chức tốt các hoạt động và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao của từng năm học.

7. Phát huy vai trò lãnh đạo chi bộ trong nhà trường, đẩy mạnh hoạt động Đoàn thể trong nhà trường cùng với việc phối hợp thực hiện tốt 03 cuộc vận động, và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để chất lượng giáo dục nhà trường thực chất bền vững về lượng lẫn chất.

8. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ; có chính sách khen thưởng phù hợp và kịp thời động viên đội ngũ.

Người viết

Hiệu trưởng

                                                                                                                                                                                             

Lê Thị Hải